UNESCO công nhận Quan Họ Bắc Ninh là di sản văn hóa nhân loại

Vào lúc 19.55 ngày 30/9/2009 (giờ Việt Nam, tức 16.55 giờ Abu Dhabi), Quan họ đã được Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể long trọng công bố là Di sản phi vật thể đại diện của Nhân loại.
TS Lê Thị Minh Lý – Cục phó Cục di sản văn hóa, TS Nguyễn Chí Bền – Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật, ông Phạm Sanh Châu – Tổng thư ký Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam “dồn dập” thông báo “tin nóng” từ Abu Dhabi, thủ đô của Tiểu vương quốc A rập thống nhất, nơi đang diễn ra kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28/9 – 2/10/2009).
Hồ sơ Quan họ được Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao về giá trị văn hóa đặc biệt về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả về trang phục.
Hồ sơ đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để Quan họ trở thành di sản đại diện của nhân loại với các kết luận sau:
- Quan họ luôn được thực hành trong các hoạt động văn hóa, xã hội của cộng đồng, được cộng đồng hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lưu giữ, trao truyền từ nhiều thế hệ và trở thành bản sắc của địa phương và lan tỏa trở thành không gian văn hóa đặc thù.
- Việc Quan họ được đăng ký vào danh sách đại diện sẽ góp phần tăng cường vị trí, vai trò của di sản đối với xã hội làm giàu thêm bức tranh da dạng văn hóa của Việt Nam và của nhân loại
- Một số biện pháp bảo vệ được đề xuất với sự cam kết của quốc gia, chính quyền địa phương và cộng đồng cho thấy tính khả thi của các hoạt động bảo vệ di sản.
- Hồ sơ đã thể hiện rõ sự tham gia một cách tự nguyện của người dân hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang trong việc nhận dạng, kiểm kê giá trị di sản và xác lập các biện pháp bảo vệ.
Viện Văn hóa Nghệ thuật và Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch được ghi nhận là các cơ quan nghiên cứu và quản lý có vai trò trực tiếp trong việc hướng dẫn cộng đồng thực hiện việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa Quan họ theo đúng yêu cầu của Công ước UNESCO 2003.
Với vị trí là thành viên Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO 2003 (gồm 24 quốc gia), Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch cùng với Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đã tham gia dự kỳ họp này và được quyền lựa chọn, ghi nhận các di sản nói trên. Thay mặt cộng đồng nhân dân hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, Viện Văn hóa nghệ thuật và đại diện Chính quyền tỉnh Bắc Ninh cũng đã có mặt tại Abu Dhabi để đón nhận danh hiệu vinh dự.
Đợt công nhận Di sản vào danh sách Đại diện của nhân loại năm nay có 111 hồ sơ đề cử từ 34 quốc gia. Trải qua 3 vòng thẩm định khoa học nghiêm ngặt, Ủy ban đã công bố chỉ có 76 di sản được ghi nhận là Di sản Đại diện của Nhân loại. 35 hồ sơ còn lại không có tên trong danh sách vì không đáp ứng được một hoặc một vài tiêu chí xét chọn.
Trước đó đã có 90 di sản phi vật thể đại diện (chính là những “kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” trước khi Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được thông qua vào 17.10.2003, trong đó Việt Nam có hai đại diện là Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Quan họ là di sản phi vật thể đại diện thứ 3 của Việt Nam.
Trong số 76 di sản đại diện được ghi nhận lần này, Trung Quốc có tới 22 di sản được công nhận, Nhật Bản đứng thứ 2 với 13 di sản, tiếp theo là Croatia với 7 di sản, Hàn Quốc với 5 di sản.Thông tin này có thể gây “bất ngờ” với những người cho rằng, Việt Nam đang “ồ ạt” đề cử nhiều di sản thế giới. Tổng số di sản đại diện của Việt Nam chỉ bằng số di sản được công nhận đợt này của Pháp.
Phiên họp sáng mai, 1/10, Ủy ban sẽ xem xét và quyết định các di sản được đề cử vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Có 12 “ứng cử viên”, trong đó có Hồ sơ Ca trù của Việt Nam. Đoàn Việt Nam đang hy vọng sẽ có tin vui tiếp theo.
Bảo tồn và phát triển Quan Họ Bắc Ninh

Từ năm 1954, chính quyền địa phương rất quan tâm đến bảo tồn và phát huy giá trị của di sản quan họ. Năm 1962, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Hội nghị Quan họ lần 1/1962. Từ năm 1963 đến 1966, tỉnh Hà Bắc (gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang), đã tổ chức 06 hội thảo về quan họ. Năm 1969, Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh được thành lập để bảo tồn, phát triển và trình diễn dân ca quan họ. Tỉnh Hà Bắc thành lập trung tâm văn hóa quan họ để sưu tầm nghiên cứu nhằm bảo vệ quan họ. Tỉnh Bắc Ninh trong quyết định số 1357/QĐ-CT ngày 19-11-2003 đã quy hoạch khu đồi Lim (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) thành khu trung tâm lễ hội dân gian, để trình diễn quan họ. Năm 2004, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh thực hiện dự án bảo tồn làng quan họ Viêm Xá. Hằng năm, hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang tổ chức hội thi hát đối đáp quan họ vào mùa xuân để phát hiện những giọng ca mới.
Những năm qua, Bộ Văn hóa Thông tin đã xác định Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một di sản Văn hóa đặc biệt, để bảo tồn và phát huy giá trị của nó. Năm 2003, với sự hỗ trợ của văn phòng UNESCO Hà Nội, Cục di sản văn hóa và Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh thực hiện “Dự án thi điểm nghiên cứu xây dựng danh sách nghệ nhân quan họ tiêu biểu” của tỉnh Bắc Ninh. Nhà nước đã phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú cho bà Tạ Thị Hình, một nghệ nhân quan họ. Các cơ quan nghiên cứu xuất bản các công trình về di sản quan họ. Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo quốc tế: Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hộ đương đại (trường hợp quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam) vào tháng 3/2006 (xem mục 7.c.2). Cuối năm 2006, Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh tổ chức tọa đàm khoa học “Bảo tồn quan họ Bắc Ninh” . Hơn một trăm năm qua, nhiều công trình sưu tầm nghiên cứu quan họ Bắc Ninh đã được công bố (xem Thư mục nghiên cứu quan họ trong danh sách Collection of Essays on Quan họ Bắc Ninh Folk Songs, VICAS, Hà Nội, 2008).
Bản thân cộng đồng, nghệ nhân ở 49 làng quan họ Bắc Ninh đồng thuận mong muốn bảo tồn và phát huy Quan họ Bắc Ninh trong hội nghị ngày 10-11-2005 tại Bắc Ninh, trong phiếu trả lời phỏng vấn khi thực hiện kiểm kê di sản vào tháng 4, 5 và 7-2008 tại 49 làng quan họ.
Từ sau 1945 đến nay, tục kết chạ, tục kết bọn quan họ, tục “ngủ bọn”, lễ hội ở các làng quan họ có nhiều biến đổi. Các nghệ nhân hát quan họ theo lối cổ mất dần, không còn việc thi hát lấy giải ở các làng quan họ, khiến cho sự ứng tác các bài mai một. Những thay đổi này khiến cho chính quyền cộng đồng phải khẩn trương và có các biện pháp thiết thực trong cuộc bảo vệ và phát huy giá trị của Dân ca Quan họ Bắc Ninh.

- Giúp cộng đồng nhận diện và kiểm kể Dân ca Quan họ Bắc Ninh theo định kỳ từng năm.
- Hoàn thành danh sách nghệ nhân quan họ ở tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang; Xây dựng chính sách đãi ngộ với nghệ nhân như lương, phụ cấp, nhất là những nghệ nhân được phong tặng “Báu vật nhân văn sống” ở các làng quan họ trên địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang.
- Hoàn thiện tư liệu và kết quả nghiên cứu về Quan họ Bắc Ninh, kể cả những làng quan họ thuộc vùng lân cận.
- Phân loại, hệ thống tư liệu lưu trữ và phục cụ cho việc tiếp cận của cộng đồng với các tư liệu về Quan họ Bắc Ninh.
- Hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cùng với cộng đồng tổ chức các liên hoan quan họ Bắc Ninh định kỳ 2 năm/lần trên cơ sở festival quan họ Bắc Ninh theo địa bàn huyện 1 năm/lần. Xây dựng đồi Lim thành một trung tâm văn hóa quan họ, có khu trình diễn, trồng lại cây xanh, trùng tu lăng Nguyễn Diễn trên đồi Lim. Xây dựng hội Lim (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), lễ hội chùa Bổ Đá (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) thành hội hát đối đáp, hát thi giải quan họ Bắc Ninh tổ chức định kì 01 năm/lần. Khôi phục hình thức hát thờ ở hội làng Viêm Xá (thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) để bảo tồn các giọng lề lối của Dân ca quan họ Bắc Ninh.
- Hỗ trợ cộng đồng phục hồi tập quán, tín ngưỡng và các lễ hội liên quan đến Dân ca quan họ Bắc Ninh ở các làng quê, khôi phục việc thi hát lấy giải của các làng quan họ tổ chức định kỳ 01 năm/lần.
- Thành lập hiệp hội nghệ nhân quan họ Bắc Ninh, trên cơ sở các Câu lạc bộ ở các làng hiện nay, xây dựng chương trình hoạt động cho hiệp hội để tổ chức phi chính phủ này đóng vai trò tích cực trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ.
- Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam nghiên cứu giúp đỡ cộng đồng tổ chức tự quản lí, thực hiện các chương trình truyền dạy, phục hồi kĩ thuật hát quan họ theo lối hat truyền thống, tìm các giải pháp để quan họ thích ứng với sự phát triển của các phương tiện âm thanh của đời sống đương đại.
- Hỗ trợ cộng đồng xây dựng nội dung truyền dạy quan họ Bắc Ninh trong các gia đình, các lớp dạy quan họ Bắc Ninh tại cộng đồng theo địa bàn làng xã.
- Cục Di sản văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Sở Giáo dục và đào tạo hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang xây dựng chuyên đề Dân ca quan họ Bắc Ninh để đưa vào giảng dạy ở nhà trường cấp 2,3 trong chương trình văn học địa phương. Thành lập khoa Dân ca quan họ Bắc Ninh trong trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật của cả hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang.
- Mở chuyên mục Dân ca quan họ Bắc Ninh trên báo Bắc Ninh, Bắc Giang, Đài phát thanh truyền hình Bắc Ninh, Bắc Giang định kì. Sử dụng đội truyền thanh cơ sỏ để tuyên truyền, giới thiệu giá trị của Dân ca quan họ Bắc Ninh trong cộng đồng làng xã. Xây dựng trang web về Dân ca quan họ Bắc Ninh.
- Giúp cộng đồng nâng cao nhận thức về giá trị của di sản thông qua việc xuất bản và cung cấp cho cộng đồng những sản phẩm văn hóa quan họ, dân ca quan họ Bắc Ninh dưới mọi hình thức: đĩa CD, VCD, DVD, sách, tờ gấp v.v…
- Tạo mọi điều kiện để cộng đồng trình diễn/giao lưu dân ca quan họ Bắc Ninh với các cộng đồng khác trong nước và ngoài nước.
- Phối hợp ngành du lịch khai thác và phát huy giá trị di sản quan họ một cách bền vững.
Giải thích về trang phục quan họ

Giải thích về trang phục quan họ kenh99.vn


Trang phục quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị. Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ.
Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh…gọi là áo kép. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện. Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà. Ngoài ra cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen. Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những “xa xỉ phẩm” theo quan niệm thời xưa. Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi trong.
Trang phục liền chị thường được gọi là “áo mớ ba mớ bảy”, nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy). Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ ba]. Về cơ bản trang phục bao gồm các thành phần: trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm. Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ). Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà. Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn. Áo dài năm thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu tứ thân thắt hai vạt trước. Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa. Áo dài ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh dán trong khi áo dài trong thường nhuộm màu khác nhau: màu cánh sen, màu hoa hiên, màu thiên thanh, màu hồ thuỷ, màu vàng chanh, màu vàng cốm v.v. Áo cánh mặc trong có thể thay bằng vải phin trắng, lụa mỡ gà.
Yếm thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm), vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển)… Giải yếm to buông ngoài lưng áo và giải yếm thắt vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng. Bao của các cô gái quan họ xưa thường sử dụng chất liệu sồi se, màu đen, có tua bện ở hai đầu bao, khổ rộng, có thể đựng túi tiền mỏng ở trong bao rồi thắt gọn ngang eo, luồn qua lưng áo dài, bó chặt lấy ba thân áo trước, thắt múi to để che phía trước bụng. Thắt lưng thường là loại bao nhỏ bằng chừng 1/3 bao, dùng để thắt chặt cạp váy vào eo. Cũng tương tự yếm, thắt lưng làm bằng lụa nhuộm các màu tươi sáng như màu hoa lựu, màu hoa đào, màu hoa hiên tươi, màu hồ thủy. Thắt lưng cũng buộc múi ra phía trước để cùng với múi bao, múi giải yếm tạo nên những múi hoa màu sắc phía trước người con gái.
Liền chị mặc váy váy sồi, váy lụa, đôi khi có người mặc váy kép với váy trong bằng lụa, vải màu, lương, the, đoạn; váy ngoài bằng the, lụa. Váy màu đen. Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho phía trước rủ hình lưỡi chai xuống gần tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm đôi con khoai phía gót chân.
Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai khiến khi đi lại, không rơi được dép. Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che dấu đầu các ngón chân. Ngoài áo, quần, thắt lưng, dép, người liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích.
Trang phục quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị. Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ.
Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh…gọi là áo kép. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện. Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà. Ngoài ra cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen. Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những “xa xỉ phẩm” theo quan niệm thời xưa. Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi trong.
Trang phục liền chị thường được gọi là “áo mớ ba mớ bảy”, nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy). Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ ba. Về cơ bản trang phục bao gồm các thành phần: trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm. Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ). Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà. Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn. Áo dài năm thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu tứ thân thắt hai vạt trước. Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa. Áo dài ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh dán trong khi áo dài trong thường nhuộm màu khác nhau: màu cánh sen, màu hoa hiên, màu thiên thanh, màu hồ thuỷ, màu vàng chanh, màu vàng cốm v.v. Áo cánh mặc trong có thể thay bằng vải phin trắng, lụa mỡ gà.
Yếm thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm), vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển)… Giải yếm to buông ngoài lưng áo và giải yếm thắt vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng. Bao của các cô gái quan họ xưa thường sử dụng chất liệu sồi se, màu đen, có tua bện ở hai đầu bao, khổ rộng, có thể đựng túi tiền mỏng ở trong bao rồi thắt gọn ngang eo, luồn qua lưng áo dài, bó chặt lấy ba thân áo trước, thắt múi to để che phía trước bụng. Thắt lưng thường là loại bao nhỏ bằng chừng 1/3 bao, dùng để thắt chặt cạp váy vào eo. Cũng tương tự yếm, thắt lưng làm bằng lụa nhuộm các màu tươi sáng như màu hoa lựu, màu hoa đào, màu hoa hiên tươi, màu hồ thủy. Thắt lưng cũng buộc múi ra phía trước để cùng với múi bao, múi giải yếm tạo nên những múi hoa màu sắc phía trước người con gái.
Liền chị mặc váy váy sồi, váy lụa, đôi khi có người mặc váy kép với váy trong bằng lụa, vải màu, lương, the, đoạn; váy ngoài bằng the, lụa. Váy màu đen. Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho phía trước rủ hình lưỡi chai xuống gần tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm đôi con khoai phía gót chân.
Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai khiến khi đi lại, không rơi được dép. Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che dấu đầu các ngón chân. Ngoài áo, quần, thắt lưng, dép, người liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích.

Nguồn: vi.wikipedia
Có một miền quê mà cách đây hàng nghìn năm đã sản sinh ra những làn điệu dân ca làm say đắm lòng người. Nghe một lần lại muốn nghe nữa, nghe nữa là lại muốn ở lại nghe mãi không thôi (nghe nhạc quan họ). Người nghe bị mê hoặc bởi những giọng hát ngọt ngào, tình tứ của những con ngời sinh ra và lớn lên cũng những câu dân ca quan họ quê mình. 

Sau mỗi vụ mùa bận rộn hay khi những hội xuân về những chàng trai đầu đội khăn xếp mặc áo the dài, quần trắng ống rộng (trang phục quan họ) và những cô gái mặc áo tứ thân nhiễu điều nép bên hoa lý muôn chùm đầu đội nón quai thao đó là các liền anh, liền chị hẹn gặp nhau trong những câu hát đối đáp giao duyên, những câu hát về quê hương đất nước. Cứ như vậy những câu hát được truyền đi truyền lại qua bao thế hệ. Người dân nơi đây đã nâng niu, nuôi dưỡng và phát triển những khúc hát đó ngày một hoàn thiện hơn.

Dân ca quan họ bắc ninh được hình thành khá lâu đời, do cộng đồng người Việt(Kinh) ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay của Việt Nam sáng tạo ra.
Dân ca quan họ là hát đối đáp nam,nữ. Họ hát quan họ vào mùa xuân,mùa thu khi có lễ hội hay khi có bạn bè. Một cặp nữ của làng này hát với một cặp nam của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ và đối giọng. Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của hai người phải hợp thành một giọng. Họ hát những bài ca mà lời là thơ,ca dao có từ ngữ trong sáng, mẫu mực thể hiện tình yêu lứa đôi, không có nhạc đệm kèm theo. Có 4 kỹ thuật hát đặc trưng : Vang, rền, nền, nảy. Hát quan họ có 3 hình thức chính :Hát canh,hát thi lấy giải,hát hội. Hát quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọn quan họ,tục “ngủ bọn”. Mặc dù các phong tục này không được thực hành nhiều như trước đây, cộng đồng cư dân các làng quan họ vẫn bảo tồn và truyền dạy nghệ thuật dân ca quan họ này.
Dân ca quan họ Bắc Ninh là hát đối đáp nam nữ. Hiện nay vẫn chưa có câu trả lời cuối cùng về thời điểm ra đời của Dân ca quan họ trong lịch sử. Đối chiếu lời của các bài quan họ trong sự phát triển của Tiếng Việt, có thể nghĩ rằng Dân ca quan họ phát triển đến đỉnh cao vào giữa thế kỉ XVIII, Chủ nhân của quan họ là những người nông dân Việt (Kinh), chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước.

Giới thiệu & đặc thù Quan Họ

Mỗi làng quan họ đều có lễ hội riêng. Quan họ tồn tại song hành cùng lễ hội làng, nơi mà người dân thờ thành hoàng, nữ thần, một đôi trường hợp là tín ngưỡng phồn thực.
Trong số các lễ hội làng quan họ, hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) mở vào 13 tháng giêng âm lịch, là hội lớn nhất.
Quan họ có các hình thức: hát thờ, hát hội, hát thi lấy giải, hát canh. Hát canh giữa bọn quan họ làng sở tại và bọn khách, ngoài bài Mời nước, Mời trầu, là 3 chặng hát: giọng Lề lối, giọng Vặt, giọng Giã bạn.
Hát quan họ là hình thức hát đôi đồng giọng: người hát dẫn, người hát luồn, hát đối đáp dẫn giọng, luồn giọng một cách điêu luyện. Giọng của hai người hát cặp với nhau phải tương hợp đến mức hai giọng trở thành một để tạo ra một âm thanh thống nhất. Có 4 kỹ thuật hát quan họ là: nền, rền, vang, nảy. Hát quan họ không chỉ đòi hỏi hát tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng, bằng nhiều kỹ thuật như: rung, ngân, luyến, láy mà còn phải hát nảy hạt. Kỹ thuật nảy hạt của các nghệ nhân quan họ tuy có nét chung với lối hát chèo và ca trù nhưng lại rất riêng, khó lẫn. Tùy theo theo cảm hứng và thị hiếu của người hát, những hạt nảy có thể lớn nhỏ về cường độ.
Dân ca quan họ có 213 giọng khác nhau, với hơn 400 bài ca. Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ. Lời chính là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca, lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi,ư hư, a ha v.v…
Dân ca quan họ chủ yếu là nghệ thuật phổ lời ca dao và thơ. Nghệ thuật này đòi hỏi phải sử dụng những tiếng phụ, lời phụ bên cạnh những tiếng chính, lời chính nhằm làm cho tiếng hát trôi chảy, bổ sung ý nghĩa cho lời ca chính, làm cho lời ca them phong phú, linh hoạt, tăng cường tính nhạc của bài ca, phát triển giai điệu, làm cho âm nhạc của bài ca trở nên sinh động, bố cục trở nên hợp lí. Không dung tiếng phụ, lời phụ, lời ca dễ đơn điệu, mất cân đối.
Chuyển điệu thức là hiện tượng đặc biệt của Dân ca quan họ với 2 hình thức: cách biệt và nối liền. Nghệ nhân ghép hai, ba âm giai ngũ cung trong một bài hát, đã khéo vận dụng nhiều dạng điệu thức khác nhau. Duy trì ở một mức độ nhất định lối cấu trúc mở, họ đã kết hợp một số mô hình cấu trúc tương phản và những thủ pháp đan điệu, chuyển điệu trong cùng một hệ thống ngũ cung hoặc chuyển hệ để phá vỡ sự đơn điệu trong một bài.Bút pháp chuyển điệu điêu luyện đưa quan họ Bắc Ninh lên đỉnh cao của nghệ thuật trong dân ca Việt Nam.
Khi hát họ sử dụng những thể thơ và ca dao nhất định của người Việt, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp. Lời các bài ca quan họ đều là những câu thơ, ca dao được trau chuốt, từ ngữ trong sang, mẫu mực. Những bài ca quan họ được sang tạo ngẫu hứng trong các kỳ hội làng, hoặc ứng tác ngay trong một canh tác, một cuộc thi trang giải của lang. Nội dung các bài ca thể hiện các trạng thái tình cảm của con người: nhớ nhung, buồn bã khi chia xa, sự vui mừng khi gặp lại của những người yêu nhau, mà không được cưới nhau theo quy định của những tập quán xã hội bằng một ngôn ngữ giàu tính ẩn dụ.
Muốn đi hát quan họ phải có bọn: bọn nam hoặc bọn nữ.Trong một làng quan họ thường có nhiều bọn quan họ nam, nữ. Họ tữ nguyện rủ nhau thành bọn. Mỗi bọn quan họ thường có 4, 5, 6 người và được đặt tên theo thứ tự chị Hai, Ba, Tư, Năm hoặc anh Hai, Ba, Tư, Năm. Cũng có bọn quan họ có tới anh Sáu, chị Sáu. Nếu số người đông tới 7,8 người thì có thể đặt tên anh Ba, Tư (bé), chị Ba, Tư (bé) v.v…mà không đặt anh Bảy, Tám, chị Bảy, Tám. Trong các sinh hoạt quan họ, các thành viên của bọn quan họ không gọi nhau bằng tên thật mà gọi theo tên đặt trong bọn. Tuy xưng hô theo thứ tự nhưng bọn quan họ luôn sống bình đẳng, thương yêu nhau.
Dân ca quan họ Bắc Ninh tồn tại trong một môi trường văn hóa với những tập quán xã hội riêng. Đầu tiên là tập quán kết chạ giữa các làng quan họ. Trong 44 làng quan họ cổ của tỉnh Bắc Ninh đã có 33 cặp kết chạ, chiếm gần 80% trong tổng số các làng quan họ. Tục kết chạ ở các làng quan họ khác biệt với tục kết chạ ở các địa phương khác trong vùng châu thổ Bắc Bộ. Đó là sự kết chạ bằng một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian. Từ tục kết chạ, trong các bọn quan họ xuất hiện một tập quán xã hội đặc biệt là tục kết bạn quan họ. Mỗi bọn quan họ của một làng đều kết bạn với một bọn quan họ ở làng khác theo nguyên tắc quan họ nam kết bạn với quan họ nữ và ngược lại. Với các làng đã kết chạ, trai gái trong các bọn quan họ đã kết bạn không được cưới nhau. Không chỉ ca hát, họ còn quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khi gia đình mỗi người trong bọn có việc hiếu, việc hỉ. Với họ, Quan họ là một thành tố không thể thiếu trong cuộc sống của họ.
Khác biệt của Dân ca quan họ Bắc Ninh so với các loại hình dân ca ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục ngủ bọn. Sau một ngày lao động, đêm đến, bọn quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 16, 17 tuổi thường rủ nhau ngủ bọn nhà ông/bà Trùm để học câu, luyện giọng: phải học đủ lối, đủ câu, luyện giọng sao cho vang, rền, nền, nảy, tập nói năng, ứng xử, giao tiếp và phải biết đặt câu, bẻ giọng, ứng đối kịp thời. Yêu cầu đặt với tục ngủ bọn là liền anh/liền chị phải ghép và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát.
Năm 1969, Đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh ra đời nhằm phổ biến quan họ một cách rộng rãi. Nghệ sĩ của Đoàn áp dụng những phẩm chất về lời ca và giai điệu của quan họ nhưng lời ca được đơn giản hóa, nhịp nhanh hơn và có nhạc đệm để diễn ở sân khấu. Mặt khác, ở các làng, cộng đồng vẫn lưu truyền, bảo tồn Dân ca Quan họ cổ.
Nói đến quan họ Bắc Ninh là nói đến ẩm thực quan họ. Miếng trầu của người quan họ có hai loại: giầu têm cánh phượng và giầu têm cánh quế. Cơm quan họ dung mâm đan, bát đàn, các món ăn trong bữa cơm phụ thuộc vào tập quán của từng làng, nhưng phải có một đĩa thịt gà, hai đĩa giò lụa, thịt lợn nạc, đặc biệt không dung thức ăn nhiều mỡ để tránh hỏng giọng.
Trong trang phục quan họ có sữ phân biệt: trang phục của người nữ quan họ gồm nón ba tầm hoặc nón thúng quai thao, khăn vấn tóc (khăn vấn và khăn mỏ quạ), yếm, áo, váy, thắt lưng; trang phục của người nam quan họ gồm khăn xếp, ô lục soạn, áo gồm hai loại: áo cánh bên trong và áo dai 5 thân bên ngoài, quần, dép. Chiếc ô của liền anh, cái nón của liền chị quan họ là biểu tượng chứa đựng tín ngưỡng cổ xưa của người Việt về thế giới tự nhiên: thờ linga, yoni.


Dân ca quan họ bắc ninh được hình thành khá lâu đời,do cộng đồng người Việt(Kinh) ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay của Việt Nam sáng tạo ra.

Giới thiệu quan họ Bắc Ninh


Dân ca quan họ là hát đối đáp nam,nữ. Họ hát quan họ vào mùa xuân,mùa thu khi có lễ hội hay khi có bạn bè. Một cặp nữ của làng này hát với một cặp nam của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ và đối giọng. 
Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của hai người phải hợp thành một giọng. Họ hát những bài ca mà lời là thơ, ca dao có từ ngữ trong sáng, mẫu mực thể hiện tình yêu lứa đôi, không có nhạc đệm kèm theo. Có 4 kỹ thuật hát đặc trưng: Vang, rền nền, nảy. 
Hát quan họ có 3 hình thức chính: Hát canh,hát thi lấy giải,hát hội. Hát quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọn quan họ,tục “ngủ bọn”. Mặc dù các phong tục này không được thực hành nhiều như trước đây, cộng đồng cư dân các làng quan họ vẫn bảo tồn và truyền dạy nghệ thuật dân ca quan họ này.


+